This is alternative content.

Phòng giáo dục

THÔNG BÁO

Kết quả hội nghị triển khai Dự án mô hình trường học mới tại Việt Nam (VNEN)

Ngày 23/3/2013 tại Thành phố Hồ Chí Minh và ngày 28/3/2013 tại Thành phố Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức hội nghị triển khai Dự án mô hình trường học mới tại Việt Nam.

I. Nội dung của hội nghị
1. Báo cáo chung về tình hình triển khai Dự án VNEN
a) Tóm tắt các thành phần của Dự án
Tổng kinh phí của Dự án là 87,6 triệu USD, trong đó có 84,6 triệu USD từ nguồn viện trợ không hoàn lại của Quỹ Hỗ trợ phát triển giáo dục toàn cầu (GPE) và 3 triệu USD từ nguồn vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam. Thời gian thực hiện Dự án là 41 tháng, kể từ tháng 1 năm 2013. Dự án VNEN là Dự án có nội dung về sư phạm nhằm xây dựng và nhân rộng một kiểu mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại, phù hợp với mục tiêu phát triển và đặc điểm của giáo dục Việt Nam. Dự án được thiết kế có 4 thành phần: Phát triển các tài liệu cho đổi mới sư phạm; Tổ chức tập huấn cho cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên và cung cấp tài liệu cho các trường; Hỗ trợ các trường để triển khai mô hình VNEN; Quản lý Dự án (QLDA) và truyền thông.
b) Những hoạt động của Dự án đã triển khai (trước và sau) khi ký Hiệp định viện trợ không hoàn lại cho Dự án từ Quỹ Hỗ trợ phát triển giáo dục toàn cầu.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai thí điểm mô hình VNEN tại 24 trường của 12 huyện ở 6 tỉnh: Hà Giang, Lào Cai, Hòa Bình, Khánh Hòa, Kon Tum và Đắk Lắk. Dư luận trong ngành giáo dục và xã hội, bước đầu nhận thấy có những ưu điểm nhất định của mô hình, phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục. Qua báo cáo đánh giá của các trường VNEN, đều có chung nhận định: Học sinh tự tin; Không khí học tập trong lớp tự nhiên, nhẹ nhàng và thân thiện; Giáo viên và học sinh tương tác với nhau nhiều hơn và kết quả học tập, chất lượng giáo dục bước đầu được cải thiện.
Năm học 2012-2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai dạy học thử nghiệm mở rộng tại 1.447 trường của 63 tỉnh (thành phố) trên toàn quốc. Cụ thể: gồm 20 tỉnh khó khăn, với 1.143 trường; 21 tỉnh trung bình, với 282 trường; 22 tỉnh (thành phố) thuận lợi, với 22 trường.
Ngày 09 tháng 01 năm 2013, Hiệp định viện trợ không hoàn lại cho Dự án đã chính thức được ký kết. Ban QLDA Trung ương, Ban QLDA tỉnh (thành phố) đã được thành lập và 1.447 trường tiểu học triển khai Dự án thành lập tổ công tác triển khai Dự án của trường.
Dự án đã xây dựng tài liệu và tập huấn cấp trung ương cho 8 lớp với 315 học viên, cấp cụm tỉnh cho 108 lớp với 3746 học viên, cấp trường 1147 lớp với 11.086 học viên. Nội dung tập huấn liên quan tới tổ chức giáo dục, quản lý, tổ chức và cấu trúc lớp học VNEN như: Phương pháp dạy, phương pháp học theo mô hình VNEN; Thành lập hội đồng tự quản học sinh; Xây dựng góc học tập và thư viện lớp học; Xây dựng góc cộng đồng; Thiết kế và xây dựng bản đồ cộng đồng; Tổ chức học sinh ngồi học trong lớp theo nhóm 4 hoặc 6. Một số tỉnh (thành phố) đã mở rộng các quy định trên ra các trường tiểu học trong toàn huyện, tỉnh hoặc bổ sung nhiều hoạt động sáng tạo.
Học kỳ I năm học 2012 – 2013 cung cấp tài liệu học tập chưa kịp thời cho các trường học. Tuy nhiên, tồn tại này có nguyên nhân khách quan, ngoài khả năng của Ban QLDA Trung ương, vì quy trình thực hiện gói thầu theo quy định của WB mất nhiều thời gian chờ đợi.
Đối với các sở giáo dục và đào tạo và các nhà trường: Đã chủ động tổ chức các hội thảo về giảng dạy VNEN, tổ chức các đợt sinh hoạt chuyên môn cụm trường trong huyện, tỉnh để mỗi giáo viên tự rút ra những bài học tốt về giảng dạy cho bản thân.
Tuy còn khó khăn do mới được tiếp xúc tài liệu, giảng dạy lần đầu, thời gian được bồi dưỡng ít, nhưng hầu hết các giáo viên đã không ngại khó, tự bồi dưỡng và hỗ trợ lẫn nhau trong thực tế giảng dạy.
Các sở giáo dục và đào tạo đã tổ chức các cuộc họp với cấp ủy và chính quyền địa phương, cha mẹ học sinh để quán triệt nhận thức về mô hình, làm thay đổi nhận thức và đã nhận được sự đồng tình ủng hộ cao của cộng đồng và toàn xã hội. 
Các địa phương đã đầu tư, bổ sung cơ sở vật chất, trang thiết bị tối thiểu cho dạy học; Lựa chọn các trường có đủ điều kiện tham gia Dự án: Bàn ghế đạt chuẩn (ghế đơn, bàn 2 chỗ ngồi), phòng học đủ rộng để tổ chức các hoạt động dạy học, sĩ số học sinh đạt chuẩn quy định và quy mô trường lớp vừa phải. Chương trình học VNEN được thiết kế cho học cả ngày, vì vậy các địa phương đã khắc phục nhiều khó khăn để tổ chức cho học sinh học 2 buổi/ngày; Ưu tiên, bổ sung thêm biên chế giáo viên và huy động nguồn lực địa phương, nguồn lực xã hội hóa để các trường, lớp đủ điều kiện tổ chức học cả ngày.
Trong một thời gian ngắn, nhờ sự chủ động, nỗ lực, quyết tâm cao của các địa phương, sự hỗ trợ thiết thực, hiệu quả của các tổ chức quốc tế, các bộ, ban, ngành và sự phối hợp đồng bộ của các địa phương, Dự án VNEN, cơ bản đã hoàn thành được những mục tiêu ban đầu đề ra. Hệ thống văn bản pháp lý, các văn kiện gốc của Dự án đã được ký kết, có hiệu lực. Các trường triển khai VNEN đã có sự thay đổi theo hướng đổi mới, không khí học tập, quan hệ các đối tác trong và ngoài trường bước đầu được cải thiện, hướng về người học, hướng về phát triển năng lực của học sinh.
c) Những hoạt động cấp bách của Dự án trong thời gian tới
Cung cấp đầy đủ các thiết bị dạy học, tài liệu bồi dưỡng chuyên môn cho các trường trước tháng 7/2013.
Rà soát, xây dựng kế hoạch triển khai VNEN cho năm học 2013 – 2014. Chuẩn bị tăng cường cho học sinh lớp 1 trong hè chuẩn bị vào lớp 2, dạy tiếng Việt cho học sinh lớp 1 lên lớp 2 theo tài liệu công nghệ giáo dục.
Hoàn tất các thủ tục chuyển kinh phí để các tỉnh (thành phố) được nhận đủ tiền của Dự án cấp.
Hoàn tất tài liệu và tập huấn giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục về đánh giá kết quả học tập của mô hình VNEN trong học kì 2 năm học 2012 – 2013; Tổ chức tập huấn cốt cán các địa phương về tăng cường năng lực cho giáo viên và cán bộ QLGD; Tổ chức tập huấn hè 2013 cho các địa phương về các tài liệu VNEN lớp 4; Đưa sinh hoạt chuyên môn định kỳ 2 lần/tháng theo nội dung hướng dẫn sinh hoạt của Dự án vào nền nếp.
Chuẩn bị điều kiện và phương tiện cho việc đánh giá đầu vào tác động Dự án và Kiểm kê mức chất lượng tối thiểu cấp trường. 
Tổng kết đánh giá toàn diện 1 năm triển khai các hoạt động Dự án; Tổ chức tham quan học tập trong nước và quốc tế; Có kế hoạch cho việc nhân rộng mô hình VNEN vào các năm học tiếp theo.
Hoàn thiện trang web phục vụ trao đổi thông tin, báo cáo giữa ban QLDA Trung ương , Ban QLDA tỉnh và các trường.
2.  Phát biểu của đại diện các tổ chức quốc tế
Ngân hàng thế giới (WB), đại diện Tổ chức Giáo dục – Khoa học – Văn hóa  Liên hợp quốc (UNESCO) đã khẳng định:
Việt Nam và WB đã xây dựng được mối hợp tác tốt đẹp và đang phối hợp chặt chẽ trong những lĩnh vực quan trọng đối với tiến trình phát triển của đất nước. Giáo dục Việt Nam đã rèn cho học sinh nhiều kỹ năng cần thiết. Sự toàn cầu hóa và phát triển kinh tế đòi hỏi học sinh cần có những năng lực khác nữa như tư duy phân tích, tính sáng tạo, cũng như kỹ năng giải quyết vấn đề và tự học.
Dự án VNEN đã chú trọng vào tính sáng tạo và kỹ năng tư duy của học sinh. Dự án góp phần làm thay đổi nhận thức của mọi người trong hệ thống giáo dục. Tính đổi mới này đòi hỏi sự đánh giá căn bản về những thành tích tốt trong hệ thống giáo dục Việt Nam; những mặt tích cực cần được tăng cường và những mặt hạn chế cần được cải thiện. Trong một vài năm tới, VNEN sẽ tiếp tục nhân rộng hệ thống cho các trường tiểu học và trung học cơ sở trên phạm vi cả nước.
Các tổ chức quốc tế đánh giá cao những nỗ lực của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc hiện thực hóa các cam kết mạnh mẽ của mình đối với công tác nâng cao chất lượng giáo dục cho mọi người trên cả nước, trong đó đặc biệt chú trọng đến những đối tượng có hoàn cảnh khó khăn. Các tổ chức quốc tế đã có những ấn tượng sâu sắc khi đến thăm các nhà trường áp dụng mô hình dạy học mới. Các phương pháp sư phạm mới đã thu hút sự tham gia của tất cả học sinh, tạo cho học sinh hứng thú và hăng say học tập. Trong lớp, trẻ em suy nghĩ sáng tạo, tích cực, chủ động và thể hiện những ý tưởng của mình. Với những thay đổi này, việc áp dụng mô hình giáo dục mới sẽ không chỉ cung cấp những thông tin quý báu cho các cuộc thảo luận toàn cầu về nâng cao chất lượng giáo dục, mà còn góp phần đáng kể vào sự phát triển giáo dục đào tạo sau năm 2015.
Dự án VNEN đối mặt với các thách thức trong việc thực hiện 85 triệu USD trong vòng 3 năm. Ngân hàng thế giới và các nhà tài trợ coi việc đánh giá tác động dự án là một trong những thành phần quan trọng nhất của Dự án.
3. Báo cáo tham luận của các tỉnh; Thảo luận chung tại hội trường và trao đổi ý kiến, giải đáp thắc mắc, đề xuất của các địa phương được tóm tắt như sau:
Các tỉnh đều có một nhận định chung là cách dạy học theo mô hình VNEN phù hợp hơn cách dạy học truyền thống. Mô hình không quy định chặt chẽ về kế hoạch dạy học mà giao quyền tự chủ cho giáo viên, điều này phù hợp với các địa phương.
Do đặc thù của học sinh tiểu học thích hoạt động nên khi dạy theo các tài liệu hướng dẫn học của VNEN, học sinh hứng thú với cách học mới. Các trường có quyết tâm cao, tự nguyện làm tốt các hoạt động của Dự án.
Chưa có tài liệu hướng dẫn tổ chức các hoạt động giáo dục nên giáo viên gặp khó khăn khi lên lớp. Sách hướng dẫn học môn Tiếng Việt vẫn còn một số nội dung khó đối với học sinh tiểu học.
Giáo viên cần có những cẩm nang riêng về tổ chức dạy học. Cần có phần mềm quản lý tài chính và hướng dẫn chi tiêu cho các trường. Đề nghị sớm cung cấp  tài liệu, thiết bị, đồ dùng dạy học, hướng dẫn tập huấn cho đội ngũ tư vấn của tỉnh. Sớm ban hành văn bản hướng dẫn đánh giá học sinh.
Các tỉnh cần thực hiện tốt chính sách cho giáo viên khi dạy 2 buổi/ngày. Cần tổ chức cho giáo viên đi tham quan học tập trong và ngoài tỉnh.
Thông qua việc thực hiện VNEN để chuẩn bị tốt cho việc triển khai chương trình và sách giáo khoa sau năm 2015. Mô hình VNEN bước đầu được dư luận đánh giá cao, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có hướng dẫn cụ thể để nhân rộng mô hình trên phạm vi toàn quốc.

4. Ký biên bản ghi nhớ về thực hiện Dự án giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với giám đốc sở giáo dục và đào tạo các tỉnh (thành phố).
II. Kết luận Hội nghị của Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển
1. Dự án VNEN dựa trên kết quả và thành tựu đổi mới giáo dục của quốc tế. Chúng ta vận dụng cách làm của giáo dục Colombia một cách sáng tạo, phù hợp với giáo dục Việt Nam. Thời gian qua, các sở giáo dục và đào tạo, Ban QLDA các tỉnh đã chủ động, tích cực triển khai mô hình VNEN. Chúng ta khẳng định mô hình VNEN là mô hình phù hợp của phong trào “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, ưu điểm vượt trội so với các mô hình khác. Dự án hướng tới các mục tiêu về đổi mới sư phạm, đổi mới phương pháp dạy, đổi mới phương pháp học từ đó nâng cao chất lượng giáo dục. Cách tổ chức quản lý Dự án, cách tiếp cận hệ thống và toàn diện của Dự án đã bước đầu thể hiện tính bền vững của Dự án. Dự án sẽ được xem xét nghiên cứu để mở rộng tới cấp trung học cơ sở.
2. Dự án coi trọng cách làm thực tế tại các trường, các cơ sở giáo dục và đào tạo, khuyến khích các trường, các giáo viên tự đưa ra các hoạt động đổi mới để nâng cao hiệu quả dạy học, hiệu quả giáo dục. Các trường có quyền tự chủ, tự quyết định về kế hoạch dạy học, về điều chỉnh nội dung dạy và kế hoạch học cho phù hợp với từng học sinh. Các địa phương tham gia Dự án tự nguyện, không ép buộc, khắc phục những khó khăn để hoàn thành Dự án trong 3 năm. Những đơn vị không làm tốt kế hoạch, chậm tiến độ Dự án sẽ được thay thế bằng những địa phương tham gia Dự án hiệu quả hơn. Vì vậy, Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các sở giáo dục và đào tạo báo cáo kết quả hội nghị với lãnh đạo UBND tỉnh (thành phố) đồng thời phối hợp đồng bộ với Vụ Giáo dục tiểu học để có thể đảm bảo thời gian thực hiện hiệu quả Dự án.
3. Đổi mới đánh giá lớp học, thay đổi cách đánh giá học sinh phù hợp với quan điểm mới là chú trọng đánh giá thường xuyên, đánh giá quá trình học tập của học sinh, đánh giá kiến thức, kỹ năng phải hướng tới đánh giá năng lực; Hướng dẫn học sinh tự đánh giá và bồi dưỡng giáo viên kỹ thuật đánh giá năng lực học sinh. Tài liệu hướng dẫn học của Dự án là tài liệu tổ chức cho học sinh hoạt động nhận thức và hướng dẫn học sinh tự học. Do đó, đòi hỏi học sinh phải đạt chuẩn trình độ đọc hiểu môn Tiếng Việt để tự học theo sự hướng dẫn của giáo viên. Cấu trúc tài liệu đi đúng hướng đổi mới sư phạm của quốc tế. Đánh giá học sinh theo sự đổi mới của tài liệu học, đánh giá sự tiến bộ của học sinh theo chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ của mỗi học sinh mà không nên so sánh với học sinh khác. Đánh giá giờ dạy của giáo viên thông qua quan sát, xem xét sự tiến bộ, thái độ làm việc, cách học tập của học sinh và giáo viên đã giúp đỡ từng học sinh trong lớp học như thế nào để các đồng nghiệp cùng nhau rút kinh nghiệm, cùng nhau tiến bộ; Chưa xếp loại giờ dạy của giáo viên dạy theo mô hình VNEN.
4. Cải tạo cơ sở vật chất, phát động phong trào tự làm đồ dùng dạy học, xây dựng tủ sách dùng chung, khuyến khích cha mẹ học sinh cùng sử dụng sách để tham gia hướng dẫn, tạo điều kiện cho học sinh học theo sách, để có điều kiện tốt nhất thực hiện Mô hình VNEN.
5. Dự án hỗ trợ một số trường sư phạm trong việc đào tạo giáo sinh về phương pháp dạy học của VNEN. Hy vọng, với cách làm này sẽ sớm có được một thế hệ các giáo viên VNEN tương lai.
6. Việc nhân rộng mô hình VNEN trên phạm vi toàn quốc: Mục tiêu đánh giá tác động của Dự án và từng bước nhân rộng mô hình. Các địa phương, nhất là các tỉnh (thành phố) có điều kiện thuận lợi cần có kế hoạch để nhân rộng mô hình vào năm học 2013 – 2014 và các năm tiếp theo. Tùy điều kiện của địa phương, từng trường có thể nhân rộng tất cả những yếu tố đổi mới của mô hình, nhưng cũng có thể chỉ áp dụng một số yếu tố thấy phù hợp nhất. Các sở giáo dục và đào tạo chỉ đạo các phòng giáo dục và đào tạo, các trường đã thực hiện mô hình VNEN hỗ trợ các phòng, các trường mới bắt đầu triển khai VNEN; Chủ động tuyên truyền, làm thay đổi nhận thức trong toàn ngành và cộng đồng; tổ chức cho giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục được tham quan, trao đổi trực tiếp giữa các trường lớp VNEN. Bài học rút ra từ thực tế là định hướng tốt nhất cho việc nhân rộng mô hình.
Trên đây là những nội dung chính của hội nghị triển khai Dự án mô hình trường học mới tại Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo trân trọng thông báo để các sở giáo dục và đào tạo và các đơn vị liên quan được biết và thực hiện.

(Ban biên tập-1)               .

You are here: Home Tổng hợp Kết quả hội nghị triển khai Dự án mô hình trường học mới tại Việt Nam (VNEN)